Phẩu Thuật Thẩm Mỹ Xữ Dụng Tế Bào Gốc (Stem cell)

Khoa Học Hay Thương Mãi ?

Khoa học gia Nguyễn Thượng Vũ
LaBelle Cosmeceuticals Incorporation, Santa Clara, California USA


Tế bào gc cho rt nhiu ha hn trong n lc tìm kiếm phương cách mi để cha tr các căn bnh him nghèo. Các khoa hc gia ti Hoa Kđang tiến hành th nghim trên mt lot các loi tế bào gc khác nhau cho các căn bnh khác nhau. Nhưng s tiến b trong vic xác định li ích thc s và vn đề an toàn trước mt và lâu dài vn còn rt nhiu câu hi. Cơ quan kim soát Thc phm và Dược phm Hoa K(FDA) vn chưa cho phép bt c ai dùng phương pháp điu tr tế bào gc trong các phòng mch hoc thm m vin ca h. Trong khi kiến thc v tim năng li ích v tế bào gc mi ngày mt tăng lên, các khoa hc gia cũng khám pháđược tim năng nguy him khi tế bào gc b thay đổi như ngun gc và kh năng gây ung thư. Nhu cu ca qun chúng v hiu biết khoa hc và lut pháp ca vic ng dng tế bào gc tr nên thiết yếu.
California USA, Ngày 25 Tháng 8, 2013 Từ cuối năm 2012, thông tin thế giới đã loan rộng những tin tức về hứa hẹn về sự khả thi trong tương lai trong việc ứng dụng tế bào gốc vào y khoa bằng chứng với sự kiện khoa học gia John B. Gurdon and Shinya Yamanaka được trao tặng giải thưởng Nobel Prize về y khoa cho khám phá khoa học: tế bào trưởng thành có thể được lập trình lại trở thành tế bào gốc vạn năng. Trong khi các bác sỹ và khoa học gia trên toàn thế giới còn đang nổ lực tìm kiếm bằng chứng thực sự hiệu quả và an toàn trong việc ứng dụng tế bào gốc vào y khoa trên con người, trong hoàn cảnh kinh tế khủng hoảng hoàn cầu, giới thương mãi đã nhảy vào nhanh chóng trong tiếp thị tế bào gốc để tìm cơ hội. Trong đó ngành thẩm mỹ, vốn đã phức tạp, đã trở nên phức tạp hơn. Giá trị lâm sàng của “Ứng dụng cấy mỡ tự thân tế bào gốc chủ yếu cho thẩm mỹ” “Ứng dụng cấy mỡ tự thân tế bào gốc chủ yếu cho thẩm mỹ” là phương pháp được quảng cáo rất phổ biến ở Việt Nam và các quốc gia mà luật lệ kiểm soát an toàn về y khoa, thuốc men, và thực phẫm rất lõng lẻo như Trung Quốc, Thái lan v.v… và nay xuất hiện cả ở Hoa Kỳ là quốc gia có luật lệ kiểm soát an toàn về y khoa, thuốc, và thực phẫm khá nghiêm khắc. Đây là những phương pháp hành nghề không được chấp nhận bởi cơ quan kiểm soát an toàn về y khoa, thuốc men, và thực phẫm của Hoa Kỳ, FDA.

Thực chất đây chỉ là phương pháp cấy mỡ chuẩn và cổ điển và từ “tế bào gốc” được thêm vào để đánh lừa dư luận. Dỉ nhiên trong khối mỡ có các tế bào gốc. Tuy nhiên đây không phải là "liệu pháp tế bào gốc" hay "phẩu thuật cấy tế bào gốc" theo định nghĩa của hai hiệp hội lớn nhất đại diện cho hơn 95% các bác sỹ giải phẩu thẩm mỹ có Board Cerified của Hoa Kỳ và Gia Nã Đại. Đó là Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ của Hoa Kỳ (American Society for Aesthetic Plastic Surgery - ASAPS) và Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Hoa Kỳ (American Society for Plastic Surgery - ASPS). Các danh từ như “stem-cell face-lift”, “stem cell face scupturing”, “phẩu thuật tế bào gốc” v.v… nghe rất rất “khoa học” thực chất chỉ là thương hiệu cầu chứng (trade mark) được đặt ra bởi một số bác sỹ thẩm mỹ. Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi trình bày khuyến cáo của ASAPS và ASPS, cũng như cơ quan kiểm soát an toàn về y khoa, thuốc men, và thực phẫm Hoa Kỳ, FDA. Đồng thời chúng tôi tóm lược lịch sử, khoa học lâm sang (clinical investigation), và khoa học thí nghiệm (laboratory investigation) về vấn đề này. Dùng tế bào gốc trong phẫu thuật thẩm mỹ trong tương lai mang đầy hứa hẹn, nhưng quảng cáo tiếp thị là quá lố xa thực tế hiện tại chứng minh bởi khoa học. Đây là tuyên bố chung của Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ của Hoa Kỳ (American Society for Aesthetic Plastic Surgery, ASAPS) và Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Hoa Kỳ (American Society for Plastic Surgery, ASPS). Bác sỹ Felmont F. Eaves III, Chủ tịch Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ của Hoa Kỳ (ASAPS) đã tuyên bố: "Trong khi chúng ta vẫn nhiệt tình về tiềm năng tương lai của liệu pháp tế bào gốc trong phẫu thuật thẩm mỹ, tuyên bố vô căn cứ cho các liệu pháp như vậy sẽ gây nguy hại cho bệnh nhân và làm lu mờ danh tiếng của ngành công nghiệp giải phẩu thẩm mỹ." Trong hội nghị thường niên vào tháng 5, 2011 của ASAPS và ASPS tại New York, Hoa Kỳ, hai hiệp hội uy tín nhất trong nghành giải phẫu thẩm mỹ này đã thiết lập bang đặc vụ để khuyến cáo các bác sĩ thẩm mỹ về việc lạm dụng từ tế bào gốc trong quảng cáo thương mãi cũng như khuyến cáo dân chúng có nhu cầu thẩm mỹ về kiến thức khi nghe quảng cáo về sử dụng tế bào gốc trong thẩm mỹ. Gần đây trong hội nghị thường niên vào tháng 4, 2013 của ASAPS và ASPS tại New York, Hoa Kỳ, chủ nhiệm ban đặc vụ của ASAPS và ASPS, bác sỹ J. Peter Rubin, cũng là trưởng khoa giải phẫu thẩm mỹ của University of Pittsburgh đã tổng kết kết quả nghiên cứu về sử dụng tế bào gốc trong phẫu thuật thẩm mỹ và đã cũng cố them tuyên ngôn của ASAPS và ASPS cho các bác sĩ và bệnh nhân về vấn đề tế bào gốc trong thẩm mỹ:

1)- Hiện nay quảng cáo tiếp thị về kết quả thực hiện các "liệu pháp tế bào gốc" hay " phẩu thuật cấy tế bào gốc " không được chứng minh là có kết quả dựa trên thực tế lâm sàng.

2)-Thuật ngữ như "liệu pháp tế bào gốc" hay "phẩu thuật cấy tế bào gốc" nên được dành để mô tả những phương pháp hoặc kỹ thuật điều trị trong đó việc tách rời và cô đọng, và hoán đổi tế bào gốc là mục tiêu chính, chứ không phải là phương pháp ghép mỡ tiêu chuẩn mà trong đó dỉ nhiên có một số tế bào gốc tự nhiên trong các mô.

3)-Trong khi liệu pháp tế bào gốc trong tương lai có thể có khả năng mang lại lợi ích cho các ứng dụng y tế, thực tế hiện nay chưa đủ dữ liệu lâm sàng để đánh giá các ứng dụng thật sự. Do đó đòi hỏi cần phải thu thập thêm bằng chứng lâm sàng cho đến khi đủ bằng chứng để chứng minh sự an toàn hiệu quả thật sự. Hiện nay chỉ có một vài sản phẩm tế bào gốc lấy ra từ cuốn rốn của em bé mới sinh (umbilical cord) đã được FDA chấp
thuận chỉ để chửa một số bệnh hiểm nghèo của máu như ung thư máu.
Trong lúc này tất cả các "liệu pháp tế bào gốc" hay "phẩu thuật cấy tế bào gốc" khác chỉ được tiến hành trong những thí nghiệm lâm sàng (clinical trial) dưới sự chấp thuận của hội đồng giám định và cơ quan FDA, và phải tuân thủ tất cả các điều lệ cho việc dùng con người để thí nghiệm. Đây cũng là luật pháp bắt buộc của chính phủ liên bang qua cơ quan FDA. Danh sách các trung tâm đã đăng k. để thực hiện những thí nghiệm lâm sàng được
phổ biến trên website dưới đây của cơ quan FDA: FDA - Human Cell and Tissue Establishment Registration (HCTERS) nhttps://www.accessdata.fda.gov/scripts/cber/CF AppsPub/tiss/index.cfm

Giá trị thực tiển của “Ứng dụng cấy mỡ tự than tế bào gốc chủ yếu cho thẩm mỹ”
Hiện nay ở Hoa Kỳ cơ quan FDA cùng với các cơ quan thẩm quyền khác đang nồ lực ngăn chận sự quảng cáo bừa bải bán sản phẩm “tế bào gốc” đang lan tràn trên internet. Trong lúc “tranh tối tranh sáng” chúng ta thấy có rất nhiều tin tức đối nghịch nhau. Chúng tôi đưa một thí dụ đã được viết bởi nhà báo Sally Wadyka của tờ báo “The New York Times” với đề tài “Cuộc Tranh Luận về Nâng Da Mặt Bằng Tế Bào Gốc”. Trong đó, Sally Wadyka dẩn chứng một tài tử điện ảnh, Eva Campbell-Morales 51 tuổi, gầy ốm, rất hài lòng với kết quả “nâng da mặt bằng tế bào gốc” thực hiện bởi bác sỹ thẩm mỹ về da, Nathan Newman ở vùng Beverly Hill, nơi gia cư của các triệu phú tài tử của thủ đô điện ảnh Hollywood của Hoa Kỳ.
http://www.nytimes.com/2013/04/04/fashion/the-debateover- stem-cell-face lifts.html?pagewanted=all&_r=0.

Khi Eva Campbell-Morales đã ở độ tuổi 50 của mình, bà nhận thấy rằng khuôn mặt của bà đã tự nhiên mỏng, đột nhiên bắt đầu trông hốc hác và già nua. Bà nói: "Là mỏng có nghĩa là tôi nhìn tuyệt vời trong chiếc quần jeans của tôi, nhưng khuôn mặt của tôi trông giống người gát nghĩa địa.” Campbell-Morales đã tham vấn rất nhiều bác sỹ thẩm mỹ danh tiếng trong vùng và không ai nghĩ là bà tài tử này cần phải làm nâng da mặt. Nhưng bác sỹ Newman
khuyên là nên bơm tế bào gốc từ mỡ. Bác sỹ Nathan Newman rất nổi tiếng qua các quảng cáo thương mãi của ông ta trên internet, báo chí, truyền thông, truyền hình v.v… Chúng tôi tìm hiểu trên website kinh doanh của ông và được biết ông là nhà sáng tạo của kỷ thuật “nâng da mặt bằng tế bào gốc™” – là phẫu thuật thẩm mỹ tiên tiến, chỉ chích mở vào da mà không cần cắt. Ông tự quảng cá là đã từng phát minh và nghiên cứu về phương pháp phẩu thuật tân kỳ này và đã từng công bố thành quả trên nhiều tạp chí y khoa danh tiếng và là từng là diễn giả tại nhiều hội nghị y tế quốc tế. Tuy bác sỹ Nathan Newman là bác sỹ da và chúng tôi thường luôn có mặt tại các hội nghị quốc gia và quốc tế về y học về da mỗi năm, chúng tôi chưa bao giờ nghe thấy có bác sỹ Nathan Newman trình bày hoặc nghe nói đến phát minh của bác sỹ Nathan Newman. Nhằm mục đích học hỏi chúng tôi cố gắng tìm các công bố khoa học của bác sĩ Newman trên các tạp chí y khoa bất kể có hoặc không danh tiếng. Bộ phận Pubmed trên website của Thư Viện Y Khoa Quốc Gia Hoa Kỳ là nơi chúng ta có thể truy cập được tất cả các công bố y khoa và sinh hóa trên thế giới đã từng được xuất bản. Chúng tôi có thể tìm được cả những văn bản cổ xưa như những công bố của John Bostock về máu vào năm 1806 hoặc công bố của William Addison về tế bào vào năm 1844
nhưng không thể nào tìm được công bố của bác sỹ Nathan Newman ngoài sự trùng tên của các khoa học gia trong các lãnh vực khác. Trường hợp như bác sỹ Nathan Newman xảy ra khá phổ biến trên internet. Tương tự, trong các cộng đồng thiểu số như Việt Nam ở Hoa Kỳ, một vài bác sĩ dùng phương tiện truyền thông bằng Việt Ngữ để đưa ra nhiều tin tức thất thiệt nhằm tiếp thị “liệu pháp tế bào gốc” để tránh sự kiểm soát của FDA. Trong khi đó, hoàn toàn tương phản, bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ Karol Gutowski ở Northbrook tiểu bang illinois giải thích: "Tôi tin rằng hầu hết các bác sĩ hứa hẹn phương pháp thẩm mỹ bằng tế bào gốc từ mỡ này chẳng qua chỉ rút ra chất mỡ ớ bụng, quay nó trong một máy ly tâm một chút và tiêm ngược nó lại vào khuôn mặt. Họ chủ yếu chỉ làm phương pháp ghép mỡ đã có nhiều chục năm nay, và những tế bào gốc có trong khối mỡ đã được lấy ra sẽ đi quá giang trong mỡ được bơm trở lại da." Bác sĩ Karol Gutowski từng là gáo sư giải phẩu của các trường đại University of Wisconsin và University of Chicago. Chúng tôi tìm được trên hệ thống Pubmed hơn 60 khảo luận về giải phẩu của bác sĩ Gutowski đã xuất bản. Một cách khách quan, khi chúng tôi quan sát hình của diển viên Campbell-Morales đăng trên bài viết của Sally Wadyka trên The New York Times, có lẽ các bác sĩ thẩm mỹ ở Bervely Hill khuyên đúng; Campbell-Morales chỉ gầy ốm và như vậy chỉ ít mỡ dưới lớp da mặt chứ không phải da chảy xệ và do đó không cần phải nâng da mặt. Bơm mỡ vào dưới da sẽ giúp bệnh nhân cảm thấy da mặt đầy đặn hơn. Do đó trong thời gian đầu sau khi ghép mỡ phần lớn khách hàng sữ dụng phương pháp này hài lòng với kết quả đạt được. Tuy nhiên sau một thời gian cơ thể sẽ tiêu thụ khối mỡ đó vì bản chất tự nhiên của mỡ là nguyên liệu dự trử năng lượng của cơ thể. Trong trường hợp bà Campbell-Morales là người chịu khó kiêng ăn để có “thân hình tuyệt vời trong quần jeans”, lượng mỡ trong cơ thể sễ ít do dó lượng mở được bơm vào mặt sẽ bị tiêu thụ mau hơn. Do đó sau vài năm thì da mặt sẽ trở lại như củ hoặc tệ hơn. Như vậy bơm mỡ vào da mặt là vô ích. Đây là l. do phương pháp thẩm mỹ cổ điển này đã có từ nhiều chục năm trước và đã vắng bóng rất lâu, nay trở lại vì những lối tiếp thị sai trái như là một “liệu pháp tế bào gốc”.
Giá trị khoa học thực sự của phẩu thuật cấy mỡ mà đã từng bị lạm dụng từ là “Ứng dụng cấy mỡ tự thân tế bào gốc chủ yếu cho thẩm mỹ”
Phương pháp cấy mỡ trong nghành giải phẩu đã có một lịch sữ lâu đời từ trước năm 1900. Tài liệu trong tạp chí y khoa có rất sớm như bài của bác sĩ Douglas Guthie về ghép mỡ trong giải phẩu hàm mặt trên tạp chí Proceedings of the Royal Society of Medicine của Anh Quốc vào tháng 10 năm 1928. Phẩu thuật cấy mỡ vào da trong thẩm mỹ bắt đầu vào khoảng năm 1977 với các bác sĩ Field và Narins ở Paris (nay phục vụ trong ban giảng huấn của trường đại học Stanford, Hoa Kỳ. Phẩu thuật cấy mỡ mang hai mục đích chính: 1-  lấp vào chổ trống và 2- tạo môi trường dinh dưỡng và để mạch máu mới mọc ra (revascularization) để giúp vết thương lành mau hơn. Trong mục đích thẩm mỹ, độn đầy lên là mục đích chính. Sự khác biệt chính trong tế bào mỡ của người mập và người ốm là kích thước của mỗi tế bào mỡ trắng (White fat: là chất mỡ đóng vai trò dự trử năng lượng) chứ không phải số lượng các tế bào. Còn kích thước của các tế bào mỡ nâu (Brown fat: là chất mỡ đóng vai trò giử ấm) thì ít khi thay đổi. Theo tổng kết của các bác sĩ Ross, Shayan, Multimer và Ashton vào tháng 6 năm 2013 đã được đăng trên tạp chí giải phẩu thẩm mỹ “Annals of Plastic Surgery”, hạn chế lớn nhất của phương pháp ghép mỡ vẫn là vấn đề duy trì khối lượng mỡ được ghép. Vì tuổi thọ của tế bào mỡ khoảng 2 năm, các tế bào mỡ mới được bơm vào, nếu tồn tại chỉ sống trong khoảng thời gian nhất định. Trong khi đó các tế bào gốc sẽ biệt hóa thành tế bào mỡ mới được quyết định bởi môi trường da mặt của bệnh nhân chứ không phải môi trường da bụng. Đó là l. do sau khoảng một vài tháng đầu khi xác các tế bào mỡ mới bơm vào tích mỡ vào thì da cảm thấy đầy đặn hơn. Nhưng sau 2 hoặc 3 năm khối lượng mỡ này sẽ mất đi (vì mỡ là nguồn dự trử năng lượng chính của cơ thể do đó sẽ bị tiêu hóa), khuôn mặt sẽ lần hổi trở lại như củ.


Hình 1: Nếu chúng ta phân tích k thut ghép m, khi lượng tế bào gc ln trong m chiếm ít hơn 1/10000 tng lượng mđược bơm ngược tr li trong da.

Do đó t “phu thut tế bào gc” hoc “cy tế bào gc” trong trường hp này dùng không đúng. Phn nguy him là khi các bác sĩ biến chế phn có cha tế bào gc trước khi chích ngược li da ca bnh nhân là phn hin còn trong giai đon thí nghim. Hu chng v lâu dài như ung thư có th xy ra. Các bác sĩ tư và cá nhân không được phép thc hin vìđây là thí nghim trên con người và là phn b ngăn cm bi lut pháp liên bang Hoa K qua cơ quan FDA.
Trong khi các tế bào mỡ sống khá lâu (mỗi năm chỉ có khoảng 10% tế bào mỡ được thay mới), các tế bào tạo mạch máu nhỏ, tương tự như tế bào da, sống ngắn hơn nhiều. Thiên nhiên đã tạo khả năng đó để giúp cơ thể thích ứng với những điều kiện thay đổi mau như ốm, mập v.v… Khi ốm, khối mỡ nhỏ đi; số lượng các vi mạch giảm bớt. Khi mập, khối mỡ to lên; số lượng các vi mạch phải tăng lên để đáp ứng. Khả năng tái tạo đó do từ tế bào gốc tương năng (multipotent stem cell) trong khối mỡ. Nói đúng hơn là những tế bào gốc ẩn nấu trên ổ kín “niche” trên thành của các mạch máu nhỏ và vi mạch nằm trong khối mỡ. Do đó trong kỷ thuật ghép mỡ hiện đại nhất, dùng phương pháp ly tâm để tăng cường phần xác các mạch máu nhỏ (vasicular fraction) trong phần tế bào mỡ được bơm ngược vào bệnh nhân là phương cách phổ biến nhất để giúp vết thương hồi phục mau hơn vì mức độ tái tạo mạch máu mới cao hơn do đó mức độ tồn tại của tế bào mỡ được ghép cao hơn.

Hiểm họa lâu dài của việc sử dụng tế bào gốc bừa bải
Gần đây có một số bác sĩ thẩm mỹ đã bước một bước xa hơn rất nguy hiểm. Đó là kích thích thay đổi hoạt động của các tế bào gốc bằng cách thêm vào các hoạt chất mà tác dụng chưa được hoàn toàn hiểu rỏ và hậu quả lâu dài rất nguy hiểm. Cách hành nghề này không được cho phép bởi FDA. Quyết định của tòa án liên bang Hoa Kỳ tại Washington DC vào 23 tháng 7 năm 2012 đã khẳng định quyền của Cục Quản l. Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) để kiểm soát và quản l. phương pháp điều trị được làm từ tế bào gốc của chính bệnh nhân. Hiện nay FDA chỉ cho phép sử dụng một vài sản phẩm tế bào gốc của máu để trị các bệnh máu hiểm nghèo như ung thư máu. Ngoài ra tất cả các chửa trị bằng tế bào gốc đều còn trong thử nghiệm. Yếu tố tối quan trọng trong kiến thức vể sinh hóa của tế bào gốc là môi trường vi mô hay niche, là môi trường ảnh hưởng sự biệt hóa của tế bào gốc. Thí dụ, trong điều kiện môi trường tự nhiên của khối mỡ, tế bào gốc tương năng này có khả năng biệt hóa thành tế bào tạo mạch máu mới và tế bào mỡ mới. Trong môi trường vi mô khác, tỉ dụ như trong môi trường ở chân răng hoặc đầu xương tế bào gốc tương năng này có khả năng biệt hóa thành tế bào xương, sụn, hoặc răng. Hiện nay giới khoa học gia về y khoa đang báo động về sự lan tràn trong việc dùng tế bào gốc một cách bừa bải. Nguy hiểm nhất là khả năng gây ung thư từ tế bào gốc, được gọi là cancer stem cell, có thể xảy ra khoảng 5-10 năm sau khi tế bào gốc tự nhiên trong cơ thể bị xáo trộn bởi các độc tố có thể tác hại lên ổ kín niche của tế bào gốc.
Một trong những độc tố nguy hiểm chính là chất chiết xuất từ hổn hợp các tế bào gốc từ các sinh vật khác hơn là con người. Bình thường trong mỗi loại tế bào gốc của mỗi sinh vật đều có rất nhiều kích thích tố đặc trưng và riêng biệt có thể tác dụng trực tiếp lên bề mặt của những chuổi DNA trong hạt nhân (epigenome) để tạo lập trình theo đúng chiều hướng để biệt hóa từ tế bào gốc đa năng trong phôi thai trở thành tế bào gốc tương năng và đơn năng
cũng như tốc độ phân chia để tạo thêm tế bào mớ. Trong người trưởng thành chúng ta chỉ có những tế bào gốc tương năng và đơn năng đã biệt hóa một phần. Tính chất về tốc độ phân chia và chiều hướng biệt hóa của mỗi tế bào gốc rất nhậy cảm và chính xác. Tuy nhiên trong trường hợp bất thường sự phô bày tế bào gốc tương năng hoặc đơn năng vô một môi trường hổn tạp của rất nhiều kích thích tố từ nhiều loại tế bào gốc khác nhau tạo áp lực khiến tế bào gốc biệt hóa theo nhiều chiều hướng khác nhau một cách hổn loạn và có thể gây ra sự lầm lẩn trong lập trình của tế bào gốc. Áp lực của sự rối loạn trong môi trường (entropy) có thể đảo ngược lập trình và khiến chúng trở lại dạng tế bào gốc đa năng một cách bất thường (abnormal reprograming). Tùy mức độ chúng có thể biến thành tế bào ung thư đơn năng (ung thư một loại tế bào) như ung thư bao tử, phổi, gan, hoặc tế bào ung thư đa năng như teratoma.
Chứng cớ về hiểm họa lâu dài của việc sử dụng tế bào gốc bừa bải
Vào năm 1998 các khoa học gia James Thomson và Jeffrey Jones ở trường đại học Wisconsin đã tách riêng được tế bào gốc đa năng từ phôi thai người và có thể nuôi được trong phòng thí nghiệm (cell culture) và tạo một sự chú . của giới khoa học gia toàn thế giới về tiềm năng dùng tế bào gốc đa năng sẳn có này trong y khoa tái tạo (regenerative medicine). Tế bào gốc đa năng (pluripotent) chỉ có trong phôi thai chứ bình thường không còn tồn tại trong con người đã phát triển đầy đủ.
Năm 1999 là sau đó một năm tại phòng thí nghiệm về tế bào da của chúng tôi tại trung tâm nghiên cứu thần kinh của trường đại học của tiểu bang California ở Davis, chúng tôi quan sát một hiện tượng lạ: tế bào gốc của da biến thành một loại tế bào quái lạ có đặc tính giống tế bào cơ trơn (smooth muscle) vì có thể tự co thắt nhip nhàng được. Tuy nhiên hình thù của loại tế bào quái lạ này không giống cơ trơn hoặc tế bào sinh ra nó (myoblast). Tôi gọi tế bào này là “monster cell” (quái tế). Từ “monster cell” ngày nay khá phổ biến trong làng khoa học sinh hóa nghiên cứu về tế bào gốc. Hiện tượng này đã xảy ra khi chúng tôi thay đổi dung môi để nuôi tế bào gốc của da trong phòng thí nghiệm; thay vì dùng chất chiết xuất  (extract) hoặc huyết thanh (serum) của bào thai bò (fetal bovine) chúng tôi thử dùng chiết xuất và serum từ cừu non (fetal sheep) với hy vọng tìm ra một dung môi tốt hơn cho kỷ thuật cấy tế bào của chúng tôi để nghiên cứu hệ thống truyền tin cholinergic receptors trên tế bào da mà chúng tôi đã khám phá được vào thập niên 1990. Nhưng kết quả đã xảy ra ngược lại: tế bào da biến thành quái tế. Vì l. do này chiết xuất và serum từ cừu non không được dùng để nuôi tế bào trong nghiên cứu khoa học. Về phương diện khoa học, quan sát này của chúng tôi khá quan trọng vì tôi tin là đây là một chứng cớ rõ ràng cho thấy tế bào gốc đơn năng của da có thể bị đảo ngược lập trình (reprogrammed) và khiến chúng trở lại dạng tế bào gốc tương năng và có thể biệt hóa một cách bất thường như tạo thành cơ trơn quái tế (tế bào da và tế  bào cơ trơn của động mạch lớn cùng bắt nguồn từ tế bào gốc đa năng và tương năng của thượng bì trong túi phôi thai). Vào thời điềm đó . tưởng này của chúng tôi đi ngược lại kiến thức chung (main stream belief) và không những không được ủng hộ và hưởng ứng mà còn bị chỉ trích khi chúng tôi trình bày trong các buổi thuyết trình tại trung tâm nghiên cứu thần kinh ở UCDavis. Để có thể
công bố khám phá này một cách nghiêm túc, câu hỏi các nhà phê bình đặt ra cho chúng tôi lúc đó là yếu tố gì trong chiết xuất và serum từ cừu non (fetal sheep) gây ra hiện tượng tế bào da có thể chuyển biệt hóa một cách bất thường như tạo thành cơ trơn quái tế; và sự chuyển biệt bất thường này xảy ra trực tiếp hay phải thực sự đi qua giai đoạn tạo lập trình lại (reprogramming) để trở thành tế bào gốc đa/tương năng nguyên thủy. Câu hỏi này không dể trả lời và cần nhiều thời gian và tài chánh để nghiên cứu. Trong khi đó tại UCDavis chúng tôi đang tiến hành một nghiên cứu khác về bệnh da (pemphigus) đang gây ra rất nhiều tranh luận và mâu thuẩn trong giới khoa học gia quốc tế đang nghiên cứu về căn bệnh này. Cùng lúc tôi vừa khám phá những proteins và gene mới trong tế bào da, protein acetylcholine alpha 9, pempaxin, desmoglein 4, v.v…Trong hoàn cảnh thiếu thốn tài chánh của phòng thí nghiệm của chúng tôi vì thiếu tài trợ, chúng tôi đã chậm trể trong việc tiến hành khám phá mới về tế bào gốc này. Tuy nhiên trong những hội nghị quốc tế về da năm 2000 và 2001 ở Chicago và Washington DC, không ngại bị chế diểu, tôi vẫn chia sẽ tưởng này với các đồng nghiệp với hy vọng một vài khoa học gia nào đó sẽ thích . kiến đó và có thể biến thành hiện thực. Rất nhanh chóng chỉ một năm sau đó, các khoa học gia Arturo Alvarez-Buylla ớ trung tâm nghiên cứu thần kinh của trường đại học láng giềng của chúng tôi là UC San Francisco và Fiona Doetsch, lúc đó đang chuyển từ trường đại học Havard qua trường đại học Rockefeller, cùng các cộng sự viên khác đã dùng tế bào gốc đơn năng của nảo cấy trong phòng thí nghiệm (thay vì tế bào da) và biến chúng thành tế bào gốc tương/ đa năng bằng những chất kích thích epidermal growth factors (chất kích thích tế bào biểu bì phá triển). Họ công bố khám phá này vào cuối năm 2002 trên tạp chí khoa học Neuron, cùng một thời gian tôi công bố khám phá chu trình của gene mọc tóc và điều khiển phát triển của da, desmoglein 4. Sau khám phá của Arturo và Fiona, khá nhiều khoa học gia khác đã dùng các loại tế bào khác  để chứng minh được là có thể dùng những kích thích tố để làm lại lập trình của tế bào gốc đơn năng để biến chúng thành đa/tương năng. Các chất kích thích tế bào gốc này thường có ở nồng độ rất cao trong bào thai như chiết xuất và serum từ bào thai cừu (fetal sheep) hay còn được gọi là “cừu non” và chính trong các tế bào gốc. Chúng tôi thường chiết xuất  chất epidermal growth factor từ tế bào gốc đơn năng của da cấy trong phòng thí nghiệm. Ngày nay chúng ta đã biết các chất kích thích này không chỉ ở dạng protein mà còn ở dạng ologonucleic acid, khó bị phân hủy. Thêm vào đó là sự hiện diện của vi khuẩn và prion cho nên bất kể uống hay chích vào cơ thể một cách bừa bải đều nguy hiểm. Chất kích thích tế bào gốc của mỗi sinh vật sống có tính đặc trưng và khác nhau do đó kích thích tế bào gốc một cách khác nhau, thí dụ tế bào gốc có thể phát triển bình thường trong môi trường này nhưng cũng có thể trở thành quái dị trong môi trường khác. Điều cần chú . là cũng trong phòng thí nghiệm, các khoa học gia cũng có thể biệt hóa các tế bào gốc tương/đa năng mới này thành các tế bào xương, sụn, cơ. Tuy nhiên các tế bào chỉ có thể tạo được các mảnh xương, sụn, và bắp cơ không hoàn chỉnh. Trong nghiên cứu, các khoa học gia gọi chúng là “monster cells”. Do dó việc sử dụng tế bào gốc trong y khoa vẫn cò trong vòng nghiên cứu và thử nghiệm để bảo đảm hiệu quả và an toàn. Cần nhắc lại là hiện nay ngoài ba sản phẩm tế bào gốc từ máu được FDA chấp thuận để tri các bệnh ung thư máu mà bệnh nhân đã tuyệt vọng vì không còn cách chữa nào khác, tất cả phương pháp chửa trị dùng sản phẩm tế bào gốc đều trong vòng thử nghiệm (clinical trial). Chắc chắn chúng ta không ai đang khỏe mạnh lại muốn mình bị đem ra để thử nghiệm trong khi hậu quả nguy hiểm của việc thử nghiệm như ung thư tế bào gốc có thể xảy ra nhiều năm sau cuộc thử nghiệm. Chắc chắn chúng ta cũng không ai muốn tự nhiên xương và răng mọc ra trong da hay trong óc, hoặc 5-10 năm về sau tự nhiên trong bụng mọc ra một khối u lẩn lộn cả răng, xương và tóc như teratoma. Đáng tiếc thay chuyện này đã xảy ra ngay ở Hoa Kỳ. Một phụ nữ ở thủ đô điện ảnh của Hoa Kỳ, Hollywood, đã trở thành nạn nhân của phương pháp cấy mỡ tế bào gốc trong đó bác sĩ dùng kích thích tố để thay đổi phần mở hút ra và được đưa vô da mặt và mí mắt. Kết quả là bà này đã bị mọc xương trong da mí mắt. Sự việc này đã được đăng tải nhiều trong thông tin uy tín của Hoa kỳ như Scientific American, USA Today, v.v…
Đây mới chỉ là bắt đầu trong một thời gian ngắn sau khi thẩm mỹ stem cell được làm, nhưng hệ quả sẽ xảy ra nhiều năm về sau thì chưa ai biết. Chúng tôi là những khoa học gia đã từng nghiên cứu và đam mê trong lảnh vực tế bào, y khoa, và bệnh học của da. Chúng tôi thấy rõ tiềm năng sữ dụng tế bào gốc trong y khoa và tin là trong một thời gian gần chúng ta sẽ có những phương cách để chửa các bệnh nan y bằng tế bào gốc. Tuy nhiên, khi nghiên cứu khá sâu vào lảnh vực tế bào gốc, chúng tôi cũng thấy rõ những nguy hiểm mà nếu không được kiểm soát kỹ lưỡng, sự hư hại của tế bào gốc trong cơ thể khi đưa vào những kích thích tố có tiềm năng rất lớn gây ra ung bứu, thường xuất hiện 5-10 năm sau khi tế bào gốc bị hư hại.
Để kết thúc bài viết này, tôi muốn kể lại một câu chuyện mà lúc nào tôi cũng nghĩ đến khi nghiên cứu về tế bào gốc. Câu chuyện này chắc hẳn các vị niên trưởng từng sống trong những vùng cao nguyên trung phần Việt Nam vào thời chiến tranh trong thập niên 1960s và 1970s thế nào cũng biết. Tôi lớn lên trong thời gian đó và nhà gần  một bệnh xá quân đội. Thỉnh thoảng tôi nghe nói có một anh lính đóng đồn trên các buôn thượng (người dân tộc thiểu số) bị “thư” bứu bụng. Khi được đem về mổ ra thì thấy cục bứu rất to có lẩn cả nùi tóc, răng, và xương. Vì tính tò mò, tôi tìm hiểu và nghe nói từ các người trong buôn là các thầy pháp dùng “ngải sống” là các bào thai nhỏ của một số giống vật. Hồi đó tôi không tin là “ngải bào thai” đó có liên quan gì vì các bác sĩ bảo đó là ung bứu. Khi qua Mỹ vào trường y khoa thì tôi hiểu đó là teratoma, là ung thư của germ cells nay gọi là tế bào gốc. Nhưng điều tôi vẫn thắc mắc là teratoma trong bụng của người lớn nam giới rất hiếm. Trong sách vở toàn thế giới chưa đến 100 trường hợp được báo cáo; tại sao xảy ra nhiều quá trong vùng cao nguyên ở Việt Nam khi tôi lớn lên. Nay nghiên cứu về tế bào gốc tôi bắt đầu thấy sự liên hệ giữa “ngải bào thai” và ung bứu tế bào gốc. “Ngải bào thai” có lẽ chẳng qua chỉ tương tự như những chất rút ra từ bào thai của động vật như cừu và các sinh vật khác và những khám phá khoa học mới nhất về khả năng kích thích tế bào gốc thành ung thư tế bào gốc tạo cơ sở luận l. khoa học cho quan sát này.


Hình 2: Bu tế bào gc teratoma (u quái). Là loi bu tế bào gc đa năng được mô tđầu tiên. Năm 1953, khoa hc gia Leroy Stevens đã chng minh quái bu teratoma cha loi tế bào khi cy vào động vt trưởng thành s biến thành hn hp các tế bào đã bit và khác bit, bao gm c tóc, xương, rut và các mô máu. Ông đã kết lun là nhng tế bào ung thư này bt ngun t tế bào gc đa năng (pluripotent stem cell), có nghĩa là chúng có th bit hóa thành bt k tế bào được tìm thy trong mt động vt hoàn toàn trưởng thành. Khả năng tự phân chia để đổi mới là tính chất căn bản của tế bào gốc. Khả năng tự phân chia thành hai tế bào con, một tế bào gốc và một tế bào với khả năng thay đổi hoặc biệt hóa thành các loại tế bào trưởng thành được quân bình trong một môi trường tế bào gốc an toàn. Nhưng nếu chúng ta vô tình hoặc cố . thay đổi và gây rối loạn cho môi trường đó, tế bào gốc có thể biến thành ung thư tế bào gốc, chính là nguồn gốc của bệnh ung thư. Lại một lần nữa, chúng tôi đóng góp những bài khảo luận này với hy vọng sẽ giúp đồng bào người Việt chúng ta có những kiến thức cập nhật và chính xác về đề tài tế bào gốc. Dĩ nhiên được trẽ đẹp mãi và đi ngược dòng thời gian là niềm mong ước, chúng tôi hy vọng đồng bào người Việt chúng ta sẽ có những nhận định thực tế trong niềm mong ước đó khi thấy và nghe các tiếp thị nói về dùng “Tế bào gốc”, “Stem cell”, “Stammzelle” v.v… hoặc cấy tế bào gốc trong thẩm mỹ trong các quảng cáo thương mãi, hoặc vấn đề du lịch chửa bệnh (medical tourism), là đi du lịch để được nhận “liệu pháp tế bào gốc” ở các quốc gia như Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, v.v… mà theo các điều tra đã được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín như NATURE và LANCET, là các quốc gia mà các nổ lực của chính phủ trong việc ngăn chận sự lan tràn của lối tiếp thị và hành nghề nguy hiểm và phi pháp này đã thất bại.

Cập Nhật Hóa Tin Tức Về Tế Bào Gốc www.lbcosmec.com
Trong khi các nghiên cứu về tế bào gốc trên toàn thế giới diển ra rất nhanh, để cập nhật các tin tức về tế bào gốc trong y khoa, chúng tôi dành phần KHOA HỌC bằng Việt ngữ của website www.lbcosmec.com để người đọc tiện việc theo dõi các tin tức mới.
Trên website www.lbcosmec.com, đọc giả có thể liên kết thẳng với các website uy tín để kiềm chứng tin tức.
Liên lạc: Vtn.labelle@yahoo.com
Tài liệu tham khảo:
Luật pháp:
Food and Drug Addministration USA:
Sử dụng tế bào gốc được kiểm soát bởi Center for Biologics Evaluation and Research (CBER) của FDA. Theo luật pháp Liên Bang, sử dụng tế bào gốc của chính bệnh nhân cũng phải đăng k. và được chấp thuận bởi FDA. Có đăng k. cũng không có nghĩa là tế bào gốc đó được FDA công nhận. FDA không chấp nhận cho cá nhân riêng lẽ (thí dụ các văn phòng bác sĩ hoặc thẩm mỹ viện) dùng tế bào gốc của bệnh nhân hay trên bệnh nhân. Nếu quí vị thấy bất kỳ một quảng cáo nào dùng tế bào gốc, quí vị vào website của FDA, Human Cell and Tissue Establishment Registration (HCTERS) database, để tìm hiểu cơ sở đó có phải là một trung tâm thử nghiệm lâm sàng tế bào gốc và có trong danh sách đã đăng k. với FDA hay không: (21 CFR Part 1271: Title 21 of the Code of Federal-Regulations)
https://www.accessdata.fda.gov/scripts/cber/CFAppsPub/ti ss/index.cfm
What are stem cells? How are they regulated?
http://www.fda.gov/aboutfda/transparency/basics/ucm1946 55.htm
FDA cảnh báo về tiếp thị tế bào gốc:
http://www.fda.gov/forconsumers/consumerupdates/ucm28 6155.htm
Tin tức phổ thông về “liệu pháp tế bào gốc” trong thẩm mỹ: Thông cáo chung của Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ Hoa Kỳ (American Society for Aesthetic Plastic Surgery -ASAPS) và Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Hoa Kỳ (American Society for Plastic Surgery - ASPS).
http://www.surgery.org/media/news-releases/asaps-andasps- issue-joint-position-statement-on-stem-cells-and-fatgrafting
Ferris Jabr: In the Flesh: The Embedded Dangers of Untested Stem Cell Cosmetics. Unapproved procedures and skin care products endanger consumers and clinical research. Scientific
American. December 17, 2012
http://www.scientificamerican.com/article.cfm?id=stem-cellcosmetics
John Farrell: Researchers Highlight Warning Signs On Adult Stem Cell Treatments. Forbes February 12, 2013
http://www.forbes.com/sites/johnfarrell/2013/02/12/researchershighlight- warning-signs-on-adult-stem-cell-treatments/
DAVID CYRANOSKI: China’s stem-cell rules go unheeded Health ministry’s attempt at  regulation has had little effect.
NATURE, APRIL 12, 2012, VOL 484: 149.
DAVID CYRANOSKI: FDA’s claims over stem cells upheld.
Drug watchdog wins right to regulate controversial therapies.
NATURE, August 2, 2012, VOL 488: 14.
Knoepfler Lab Stem Cell Laboratory. University of California
Davis: Knoepfler Lab Stem Cell Blog:
http://www.ipscell.com/tag/stem-cell-cosmetics/ Comic on stem cell facelifts: http://www.ipscell.com/tag/stem-celldangers/
Stem Cells Freak: Unapproved cosmetic stem cell treatments turn out to be dangerous.
http://www.stemcellsfreak.com/2012/12/unapproved-cosmeticstem-  cell.html


CHANG MENG: STEM CELL BEAUTY SCAMS. GLOBAL TIMES | JULY 16,
2013.HTTP://WWW.GLOBALTIMES.CN/CONTENT/796650.SHTML#.UHZ_3S2CYB8
Marc Lallanilla: Why Stem Cell Facelifts Are So Risky.
Livescience. December 21, 2012
http://www.livescience.com/25769-stem-cell-plastic-surgery.html
The Dangers of Stem Cell Cosmetics: Huffington Post (Video)
http://live.huffingtonpost.com/r/segment/stem-cell-face-creamcosmetic surgery/50d0c006fe344434c100029b
World Report: Stem-cell experts raise concerns about medical
tourism Stem-cell therapies are emerging as a growing area of
medical tourism, even while research is still in its early stages. The
trend is causing concern among experts. Eliza Barclay investigates.
www.thelancet.com. LANCET Vol 373 March 14, 2009
Alex Berezow: Beware of stem cell therapy claims: Medical
research has shown promise, but some cosmetic procedure claims
are unproven. USA Today, May 2013.
Thử Nghiệm Lâm sàng (Clinical Trials & Reports)
Guthrie D. Fat Grafting in Mastoid Surgery. Proceeding Royal
Society of Medicine. 1928 Oct; 21(12):1914-7
EASTLICK HL, WORTHAM RA.: Studies on transplanted
embryonic limbs of the chick; the replacement of muscle by
adipose tissue. Journal of Morphology. 1947 May; 80(3):369-89
LAICO JE: Fat grafting in facial deformity. Philippino Journal of
Surgery. 1951 Sep-Oct;6(5):226-9
Ross RJ, Shayan R, Mutimer KL, Ashton MW.: Autologous Fat
Grafting: Current State of the Art and Critical Review. Annals of
Plastic Surgery. 2013 Jun 19.
Peltoniemi HH, Salmi A, Miettinen S, Mannerström B, Saariniemi
K, Mikkonen R, Kuokkanen H, Herold C. Stem cell enrichment
does not warrant a higher graft survival in lipofilling of the breast:
A prospective comparative study. Journal of Plastic and
Reconstructive Aesthetic Surgery. 2013 Jul 8.
JOSEPH E. MuRRAY, et al. Kidney Transplantation in Modified
Recipients. Annals of Surgery September 1962 Volume 156:
Number 3: 338-353
Tabit CJ, Slack GC, Fan K, Wan DC, Bradley JP: Fat grafting
versus adipose-derived stem cell therapy: distinguishing
indications, techniques, and outcomes. Aesthetic Plastic Surgery.
2012 Jun; 36(3): 704-13
Sheng L, Yang M, Liang Y, Li Q: Adipose tissue-derived stem
cells (ADSCs) transplantation promotes regeneration of
expanded skin using a tissue expansion model. Wound Repair
Regeneration. Aug 12, 2013.
Fisher C, Grahovac TL, Schafer ME, Shippert RD, Marra KG,
Rubin JP. Comparison of harvest and processing techniques for
fat grafting and adipose stem cell isolation. Plastic and
Reconstructive Surgery. 2013 Aug; 132(2):351-61.
Mailey B, Saba S, Baker J, Tokin C, Hickey S, Wong R, Wallace
AM, Cohen SR.: A Comparison of Cell-Enriched Fat Transfer to
Conventional Fat Grafting after Aesthetic Procedures Using a
Patient Satisfaction Survey. Annals of Plastic Surgery. Mar 11,
2013.
Gamboa GM, Ross WA. Autologous fat transfer in aesthetic
facial recontouring. Annals of Plastic Surgery. 2013 May; 70(5):
513-6.
Kaanta AS, Virtanen C, Selfors LM, Brugge JS, Neel BG.
Evidence for a multipotent mammary progenitor with pregnancyspecific
activity. Breast Cancer Research. 2013 Aug 15; 15(4):
R65
Avram MM, Avram AS, James WD. Subcutaneous fat in normal
and diseased states 3. Adipogenesis: from stem cell to fat cell.
Journal of American Academy of Dermatology. 2007 Mar;
56(3):472-92.
Tiryaki T, Findikli N, Tiryaki D. Staged stem cell-enriched tissue
(SET) injections for soft tissue augmentation in hostile recipient
areas: a preliminary report. Aesthetic and Plastic Surgery.
December 2011; 35(6): 965-71
Moseley TA, Zhu M, Hedrick MH.: Adipose-derived stem and
progenitor cells as fillers in plastic and reconstructive surgery.
8
Plastic and Reconstructive Surgery. September 2006; 118(3
Suppl): 121S-128S.
Khoa Học Y Khoa và Tế Bào Học
James A. Thomson et al. Embryonic Stem Cell Lines Derived
from Human Blastocysts. Science 282, 1145 (1998)
Vu Thuong Nguyen, et al.: Choline acetyltransferase,
acetylcholinesterase, and nicotinic acetylcholine receptors of
human gingival and esophageal epithelia. Journal of Dental
Research. April 2000; 79(4):939-49.
Vu Thuong Nguyen, et al.: Programmed cell death of
keratinocytes culminates in apoptotic secretion of a humectant
upon secretagogue action of acetylcholine. Journal of Cell
Science. January 2001, 114, 1189-1204
Fiona Doetsch and Arturo Alvarez-Buylla et al: EGF Converts
Transit-Amplifying Neurogenic Precursors in the Adult Brain into
Multipotent Stem Cells. Neuron Volume 36, Issue 6, 19
December 2002, Pages 1021–1034
Ya-Chieh Hsu and Elaine Fuchs: A family business: stem cell
progeny join the niche to regulate Homeostasis. Nature Review
of Molecular Cell Biology; 13(2): 103–114.
Larissa V. and Louis J. Ignarro et al.: Clonogenic multipotent
stem cells in human adipose tissue differentiate into functional
smooth muscle cells. Proceeding National Academy of Science,
August 8, 2006, vol. 103, no. 32: 12167–12172
Yu J and Thomson JA et al: Induced pluripotent stem cell lines
derived from human somatic cells. Science. 2007 Dec 21;
318(5858): 1917-20
Rodríguez LV and Ignarro LJ. : Clonogenic multipotent stem cells
in human adipose tissue differentiate into functional smooth
muscle cells. Proceeding National Academy of Science U S A.
2006 Aug 8; 103(32): 12167-72.
Rudolf Jaenisch and Richard Young: Stem Cells, the Molecular
Circuitry of Pluripotency and Nuclear Reprogramming Cell 132,
567–582, February 22, 2008
E. FUCHS AND J.A. NOWAK: Building Epithelial Tissues from
Skin Stem Cells Cold Spring Harb Symp Quant Biol 2008 73:
333-350
Rui Yi and Elaine Fuchs: MicroRNAs and their roles in
mammalian stem cells. Journal of Cell Science 124, 1775-1783
Ya-Chieh Hsu, H. Amalia Pasolli, and Elaine Fuchs: Dynamics
between Stem Cells, Niche, and Progeny in the Hair Follicle. Cell
144, 92–105, January 7, 2011
Zheng Z and Ting K et al: Reprogramming of human fibroblasts
into multipotent cells with a single ECM proteoglycan,
fibromodulin. Biomaterials June 04, 2012
Karen LR and Yadong Huang et al: Direct Reprogramming of
Mouse and Human Fibroblasts into Multipotent Neural Stem
Cells with a Single Factor. Cell Stem Cell Volume 11, Issue 1, 6
July 2012, Pages 100–109
Li, J., Greco, V., Guasch, G., Fuchs, E., and Mombaerts, P.
(2007). Mice cloned from skin cells. Proceeding National
Academy of Science U S A. 104, 2738–2743.
Al-Nbaheen M and Aldahmash A et al: Human stromal
(mesenchymal) stem cells from bone marrow, adipose tissue and
skin exhibit differences in molecular phenotype and differentiation
potential. Stem Cell Review 2013 Feb;9 (1):32-43
Darja Marolt and Gordana Vunjak-Novakovic et al: Engineering
bone tissue from human embryonic stem cells. Proceeding
National Academy of Science U S A 2012 109 (22) 8705-8709
Nick Barker, Marc van de Wetering, and Hans Clevers: The
intestinal stem cell. Genes Development. 2008 22: 1856-1864
Elsa Quintana et al.:Efficient tumour formation by single
human melanoma cells. Nature 456, 593–598 (4 December
2008)
Tannishtha Reya, Sean J. Morrison, Michael F. Clarke & Irving L.
Weissman: Stem cells, cancer, and cancer. NATURE. November
2001, Vol 414: No. 1
Lobo NA, Shimono Y, Qian D, Clarke MF. The biology of cancer
stem cells. Annu Rev Cell Dev Biol. 2007; 23:675-99.